Lượt xem: 634

Năm 2022: Thay đổi, bổ sung hình thức xử phạt trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

Ngày 24/3/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2020/NĐ-CP trong đó  quy định vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên môi trường

Ngày 24/3/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2020/NĐ-CP trong đó  quy định vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên môi trường gồm: Vi phạm các quy định về thăm dò, khai thác khoáng sản; vi phạm các quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản; vi phạm các quy định về sử dụng số liệu, thông tin kết quả điều tra địa chất về khoáng sản, thăm dò khoáng sản; vi phạm các quy định về quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác; vi phạm các quy định về bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; vi phạm các quy định về kỹ thuật an toàn mỏ và các vi phạm khác trong lĩnh vực khoáng sản, đồng thời đã quy định các hình thức, mức độ xử phạt đối với các hành vi vi phạm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, còn một số nội dung chưa được quy định đầy đủ, mức xử phạt chưa cụ thể hoặc mang tính răn đe chưa cao, do đó, ngày 06/01/2022 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ. 

Để mọi hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước, khoáng sản đảm bảo đúng quy định, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản, tài nguyên nước cần chú ý một số nội dung sau:

1. Sửa hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung (khoản 2 Điều 2 Nghị định 04/2022/NĐ-CP)

Hình thức xử phạt chính là tước quyền sử dụng giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. (Trước đây, hình thức xử phạt chính còn bao gồm tước giấy giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất)

- Hình thức xử phạt bổ sung đình chỉ hoạt động lập, thực hiện đề án, dự án về tài nguyên nước; đình chỉ hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, hành nghề khoan nước dưới đất, thăm dò, khai thác khoáng sản từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. (Trước đây, không xử phạt đối với hành vi sử dụng tài nguyên nước, hành nghề khoan nước dưới đất và thời hạn đình chỉ chỉ từ 01 tháng đến 12 tháng – điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị định 36/2020/NĐ-CP).

2. Bổ sung thời hiệu xử phạt vi phạm lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

- Bổ sung Điều 5a Nghị định 36/2020/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt hành chính lĩnh vực tài nguyên nước bao gồm các hành vi vi phạm đã kết thúc và các hành vi vi phạm đang thực hiện là 02 năm. 

- Bổ sung Điều 5b Nghị định 36/2020/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt hành chính trong lĩnh vực khoáng sản là 02 năm. 

3. Bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả với hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép về tài nguyên nước (khoản 5 Điều 2 Nghị định 04/2022/NĐ-CP) 

- Hình thức xử phạt bổ sung:

Bỏ hình thức tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép. 

Bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại giấy phép đã bị sửa chữa, làm lệch nội dung đối với hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép cho cơ quan có thẩm quyền đã cấp.

4. Tăng mức phạt với hành vi nộp chậm báo cáo định kỳ hoạt động thăm dò khoáng sản (khoản 13 Điều 2 Nghị định 04/2022/NĐ-CP) 

-  Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi:

Nộp chậm báo cáo định kỳ hoạt động thăm dò khoáng sản cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định từ 30 ngày đến dưới 60 ngày kể từ ngày 01 tháng 02 của năm kế tiếp kỳ báo cáo (Trước đây là chậm từ 15 ngày đến dưới 30 ngày kể từ ngày 01 tháng 02 của năm kế tiếp kỳ báo cáo).

- Bổ sung quy định phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với hành vi:

Không nộp báo cáo định kỳ hoạt động thăm dò khoáng sản cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định (tổ chức, cá nhân nộp báo cáo định kỳ hoạt động thăm dò khoáng sản chậm từ 60 ngày trở lên kể từ ngày 01 tháng 02 của năm kế tiếp kỳ báo cáo được xem là không nộp báo cáo định kỳ hoạt động thăm dò khoáng sản). (Trước đây, thời hạn nộp chậm báo cáo định kỳ là quá 30 ngày kể từ ngày 01 tháng 02 của năm kế tiếp kỳ báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản)

Mức phạt này áp dụng với cá nhân, tổ chức vi phạm bị phạt gấp 2 lần mức phạt đối với cá nhân (khoản 1 Điều 4 Nghị định 36/2020/NĐ-CP)

5. Tăng mức phạt đối với hành vi nộp chậm báo cáo định kỳ hoạt động khai thác khoáng sản (khoản 14 Điều 36 Nghị định 04/2022/NĐ-CP

- Phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi:

Nộp chậm báo cáo định kỳ hoạt động khai thác khoáng sản cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định từ 30 ngày đến dưới 60 ngày kể từ ngày 01 tháng 02 của năm kế tiếp kỳ báo cáo.

- Bổ sung quy định phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng đối với hành vi không nộp báo cáo định kỳ hoạt động khai thác khoáng sản cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (tổ chức, cá nhân nộp báo cáo định kỳ hoạt động khai thác khoáng sản chậm từ 60 ngày trở lên kể từ ngày 01 tháng 02 của năm kế tiếp kỳ báo cáo được xem là không nộp báo cáo định kỳ hoạt động khai thác khoáng sản) (Trước đây, thời hạn nộp chậm báo cáo định kỳ hoạt động khai thác khoáng sản là quá 30 ngày kể từ ngày 01 tháng 02 của năm kế tiếp kỳ báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền)

Mức phạt này áp dụng với cá nhân, tổ chức vi phạm bị phạt gấp 2 lần mức phạt đối với cá nhân (khoản 1 Điều 4 Nghị định 36/2020/NĐ-CP).

Đề nghị các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản lưu ý và thực hiện tốt các quy định của pháp luật, hạn chế tối đa những vi phạm nêu trên là góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động tài nguyên nước và khoáng sản.

TH- Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường

 

Tin khác
1 2 3 4 5  ... 
Thông tin mới nhất
Thống kê truy cập
  • Đang online: 20
  • Hôm nay: 1095
  • Trong tuần: 11,356
  • Tất cả: 611,336
Đăng nhập