BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC

4/6/2014 10:35:06 PM

“Nước là nền tảng của sự sống, không một sinh vật nào có thể sống thiếu nước. Nước là điều kiện đầu tiên để xác định sự tồn tại của sự sống, của con người. Trong cấu trúc động, thực vật thì nước chiếm tới 80 - 99% trọng lượng các loài động thực vật dưới nước và chiếm 65-75% trọng lượng con người và các loài động thực vật trên cạn”

TheoTổ chức Y tế thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, Mặc dù 70% bề mặt trái đấtbị nước bao phủ, nhưng 97,5% lượng nước là nước mặn và trong số 2,5% lượng nướccòn lại thì 68,5% bị đóng băng tại các núi và sông băng, chỉ có khoảng 1% tổnglượng nước trên hành tinh dành cho con người sử dụng. Hiện có hơn 1,1 tỷ ngườitrên thế giới không có nước sạch sử dụng. Mỗi năm có 5 triệu người chết vìnhững bệnh liên quan đến nước.
Đố ivới Việt Nam,tài nguyên nước ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững. Tổng lượng nước mặt bìnhquân năm ở Việt Namcó khoảng 830 tỷ m3. Hơn 60% nguồn nước mặt của Việt Nam được sảnsinh ở nước ngoài, chỉ có bình quân 309 tỷ m3mỗi năm được sản sinh trên lãnh thổViệt Nam.Lượng nước mặt bình quân đầu người ở nước ta hiện nay đạt khoảng 3.840 m3/người/năm.Nếu tính tổng lượng tài nguyên nước sông ngòi ở Việt Nam, kể cả nước từ bên ngoài chảyvào thì bình quân đạt 10.240 m3/người/năm. Với tốc độ phát triển dânsố như hiện nay thì đến năm 2025 lượng nước mặt tính bình quân đầu người ở nướcta chỉ đạt khoảng 2.830 m3/người/năm. Tính cả lượng nước từ bênngoài chảy vào thì bình quân đạt 7.660 m3/người/năm.
Theo chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyênnước quốc tế (IWRA), quốc gia có lượng nước bình quân đầu người dưới 4.000 m3/người/nămlà quốc gia thiếu nước. Như vậy, nếu chỉ tính riêng lượng tài nguyên nước mặtsản sinh trên lãnh thổ thì ở thời điểm hiện nay Việt Nam đã thuộc số các quốc gia thiếunước và sẽ gặp phải rất nhiều thách thức về tài nguyên nước trong tương laigần.
Đối với Sơn La là một trong nhữngtỉnh có nguồn tài nguyên nước ở mức trung bình. Theo kết quả đánh giá cho thấy,lượng nước trên địa bàn tỉnh Sơn La khoảng 12.746,6 triệu m3/năm.Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước hiện tại phục vụ cho các mục đích phát triểnkinh tế, xã hội toàn tỉnh khoảng 699,3 triệu m3/năm (khoảng 5% nguồnnước), đến năm 2015 khoảng 746,7 triệu m3/năm (khoảng 6% nguồnnước), đến năm 2020 khoảng 793,3 triệu m3/năm (khoảng 6% nguồn nước)và năm 2025 khoảng gần 911,5 triệu m3/năm (khoảng 7% nguồn nước).
Trong đó, tài nguyên nước mặt tỉnh Sơn La khoảng 11,3tỷ m3/năm, lưu vực sông Đà chiếm khoảng 79% tổng lượng nước mặt toàntỉnh; lưu vực sông Mã khoảng 21% tổng lượng nước mặt toàn tỉnh. Tàinguyên nước mưa của tỉnh Sơn La thuộc loại trung bình nhưng phân bố rất khôngđồng đều theo không gian, biến đổi từ 1100 mm đến 1700 mm. Toàn tỉnh có lượngmưa năm trung bình nhiều năm X0 là 1400 mm và tổng lượng nước mưarơi thẳng đứng trên toàn tỉnh là 19,78 tỷ m3 mỗi năm. Với tổng lượngnước mưa trên thì bình quân trên một km2 có 1,4 triệu m3nước mưa đến lưu vực trong một năm. Nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Sơn La tồn tại dưới 2dạng chủ yếu là tầng chứa nước lỗ hổng phân bố trên diện tích khoảng 172km2và tầng chứa nước khe nứt - khe nứt cactơ phân bố trên diện tích khoảng140.000km2.Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất là là3.980.445m3/ngày. Tuy nhiên, với đặc điểm phân bố các nguồn nướcdưới đất tỉnh Sơn La trong các đá gốc nứt nẻ không đồng nhất, địa hình phâncắt, nên khả năng khai thác (tiếp cận) nguồn nước dưới đất tương đối khó khăn.Theo kết quả điều tra, thu thập cho thấy khả năng khai thác nước dưới đất tậptrung chủ yếu vào các tầng chứa nước nước trong các trầm tích carbonat hệ tầngĐồng Giao (t22); hệ tầng Bắc Sơn và Đa Niêng (c-p), dọccác trục giao thông chính đặc biệt là dọc trục quốc lộ 6.
Tính trên tổng lượng thì nguồn nước trên địa bàn tỉnhđáp ứng đủ cho các nhu cầu sử dụng, nhưng do nguồn nước nước dưới đất phân bốkhông đồng đều, chỉ phát triển trong các hang karst, các đới dập vỡ nứt nẻ kiếntạo. Về nguồn nước mặt, do đặc điểm địa hình phân cắt nên vấn đề tiếp cận nguồnnước đối với một số vùng, khu vực là tương đối khó khăn và vấn đề ô nhiễm nguồnnước rất dễ xảy ra. Những nguyên nhân chủ yếu gây suy giảm nguồn tài nguyênnước là:
1. Sựgia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nước sạch cho ăn uống vàlượng nước cần dùng cho sản xuất. Đồng thời, tác động của con người đến môitrường tự nhiên như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợplý và thải chất thải bừa bãi vào các thuỷ vực... đã và sẽ gây nên những hậu quảrất nghiêm trọng, nguy cơ thiếu nước sạch ngày càng trầm trọng. Kết cấu hạ tầngkhai thác, sử dụng nước xuống cấp và tình trạng sử dụng nước lãng phí, thiếuhiệu quả: Ở nhiều hệ thống cấp nước đô thị, lượng nước thất thoát lên đến40-50%; khả năng cấp nước theo thiết kế của các hệ thống thuỷ lợi đang suygiảm. Nhiều công trình trên sông khi thiết kế hệ thống không chú ý đầy đủ đếnnhu cầu bảo đảm dòng chảy tối thiểu cho hạ lưu đã dẫn đến tình trạng suy thoáidòng chảy nghiêm trọng.
2. Sựkhai thác, sử dụng thiếu ý thức và thiếu sự kiểm soát, thiếu những biện phápphòng chống ô nhiễm cần thiết cũng làm cho tài nguyên nước suy thoái thêm vềchất lượng. Việc xả nước thải sản xuất công nghiệp chưa được xử lý vào sông,suối, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất. Có nơi còn cho nước thải chảytràn để tự thấm xuống đất hoặc đào các ao, hồ dưới đất mà không có các biện pháp chống thấmhợp lý làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước dưới đất, gây ô nhiễm môitrường. Trong lĩnh vực nông nghiệp cũng gâyra những ô nhiễm đáng kể. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm chưa có hệ thống xửlý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễgây ô nhiễm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm… Hệ thống tưới tiêu và hìnhthức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thất thoát lưu lượng nước lớntrong ngành trồng trọt.
3. Sự biến đổi của khí hậu toàn cầu đã, đang và sẽtác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ biếnđổi tuỳ theo mức độ biến đổi của lượng mưa; gia tăng những tác động bất lợi củatài nguyên nước như: lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá, ngập lụt hoặc hạn hán,…
Theo Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ TN&MT),Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố năm 2013 là Năm hợp tác Quốc tế về nướccó chủ đề “Hợp tác vì nước” với thông điệp “Nếu tất cả chúng ta cùng nhau chiasẻ, ai cũng sẽ có cơ hội sử dụng nước”. Ngày nước thế giới 22/3 năm nay đặcbiệt nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường hợp tác vì nước, cũng như đề xuấtcác giải pháp hướng tới hài hòa trong phân bổ nguồn nước giữa các ngành và cácnhóm sử dụng nước. Đây cũng là cơ hội để các nhà quản lý, doanh nghiệp,nhà khoa học, học sinh, sinh viên, cộng đồng chia sẻ các sáng kiến trong hợptác vì nước, và thảo luận các vấn đề liên quan đến giáo dục, ngoại giao, quảnlý nước xuyên biên giới, hợp tác tài chính, khung chính sách quốc gia và quốctế và mối liên kết giữa quản lý tài nguyên nước tới các Mục tiêu Phát triểnThiên niên kỷ.
Đểgóp phần cân bằng giữa cung và cầu, đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sảnxuất bền vững thì tất cả chúng ta hãy chung tay cùng nhau quản lý, bảo vệ, sửdụng hiệu quả nguồn nước của tỉnh. Các cơquan quản lý nhà nước cần sớm hoàn chỉnh “Quy hoạch phân vùng khai thác sử dụngtài nguyên nước và xả nước thải” nhằm kiểm soát số lượng và chất lượng nguồnnước trong khu vực; xây dựng và triển khai quản lý tổng hợp tài nguyên nước; xâydựng các công trình tích nước, hệ thống thủy lợi; nâng cao năng lực đội ngũ cánbộ để thực hiện tốt vai trò quản lý tài nguyên nước; thực hiện công tác quantrắc tài nguyên nước để theo dõi diễn biến về số lượng, chất lượng nguồn nướckhuyến nghị đến các tổ chức, cá nhân; đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng để nângcao nhận thức cộng đồng về tài nguyên nước. Các tổ chức chính trị, xã hội, cáccơ quan thông tấn, báo chí: góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng trong khaithác, sử dụng nước theo hướng bền vững; tuyên truyền thông tin, số liệu, giảipháp nhằm bảo vệ, phát triển tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh. Các tổ chức,cá nhân nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình trong việc thực thi pháp luậtvề tài nguyên nước, cùng với cơ quan nhà nước thực hiện quản lý, bảo vệ và sửdụng nguồn nước tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước của tỉnh.